Paris tưởng nhớ ca sỹ Trần Lập – nối dài vòng tay yêu thương

By Lê Thị Hiệu

Cám ơn ca sỹ-nhạc sỹ Trần Lập, khoảng thời gian anh đi ngang qua cõi tạm này quả là ngắn, nhưng tên tuổi anh có lẽ đã gắn sâu và tâm thức của đông đảo các bạn trẻ, một thế hệ rất đang cần tiếp thêm ý chí để đối diện với một thực tế trần trụi của xã hội đương thời. Bức thông điệp của anh đã được đón nhận, ngay cả ở nơi xa, rất xa Việt Nam như Paris hoa lệ này. Những ca khúc của anh đã góp phần tiếp thêm lửa cho các em, chỉ cho các em thấy cuộc sống không chỉ có màu hồng, nhưng không phải vì thế mà không tỏa hương. Hoa hồng và hương thơm phải tự mình tìm kiếm và sáng chế, có như vậy, hoa sẽ đẹp hơn và hương sẽ thơm và lan tỏa rộng rãi hơn.

More...

Chuyện tình của cựu đại sứ Pháp và cô gái Việt

By Lê Thị Hiệu

Tác phẩm của nhà văn Hiệu Constant là cuộc đối thoại giữa Jean Claude – người từng giữ chức vụ Đại sứ Pháp tại Việt Nam và Hoài Thu – cô phóng viên người Việt.

More...

Giới thiệu tác phẩm Tướng Giáp hát La Marseillaise

By Lê Thị Hiệu

6 giờ tối ngày 14 tháng bảy năm 1989, khi mọi người đang chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm cuộc Cách Mạng Pháp, thì tướng Giáp, một vị tướng lừng danh trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, người đã dành chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội khắp năm châu, đã đến Đại Sứ Quán Pháp tại Hà Nội để tham dự ngày lễ trọng đại này của dân tộc Pháp, và đó là lần đầu tiên trong đời ông đến đây.

More...

Nguyễn thị Thật : chỉ có sự thật mới tồn tại dài lâu.

By Lê Thị Hiệu

                                      

(Cô Thật cùng ông thị trưởng thành phố Pollestres trong buổi giới thiệu các món ăn cảu miền nam Việt nam tại trung tâm thương mại La Fayettes thành phố Perpignan)

Nguyễn thị Thật : chỉ có sự thật mới tồn tại dài lâu.

(Bài đăng trên báo Việt Nam & Thế giới ngày 17/06/2008)

Lần theo một trang báo dài đăng trên tờ nhật báo Indépendant của vùng Rousillon- Catalogne miền nam nước Pháp. Bài báo tường thuật chuyến du lịch của một đoàn người gồm ba chục khách Pháp đến Việt Nam. Đoàn người này là những cha mẹ đỡ đầu cho các em bé tại làng Cái Mơn thuộc tỉnh Bến tre. Họ sang Việt Nam để thăm các em đã được mình giúp đỡ và tận mắt chứng kiến những thành quả của bà chủ tịch Hội Việt- Pháp tại thành phố Perpignan.

Tôi đến gặp bà Peel Thật tên thời con gái là Nguyễn Thị Thật. Tôi bắt gặp một con người nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn chạy qua chạy lại giữa « làn sóng » những người Tây cao lớn. Hôm nay Hội tổ chức giới thiệu cho các bạn Pháp một số các món ăn truyền thống của đồng bằng Nam Bộ Việt nam. Đợi mãi tôi cũng được bà dành cho vài chục phút để tâm sự.

« Tôi sinh ra ở làng Cái Mơn một ngôi làng nghèo nàn cách thủ phủ tỉnh Bến Tre hơn ba mươi cây số… » bà bắt đầu kể. Cha bà là một nhạc sĩ nổi tiếng hồi đầu thế kỷ XX Trần Văn Công. Dù nhà nghèo nhưng có khiếu âm nhạc và nói giỏi tiếng Pháp nên ông được các Cha xứ người Pháp đỡ đầu. Được hưởng gien từ cha từ nhỏ bà đã chứng tỏ năng khiếu về chuyên ngành này. Nhưng với kinh nghiệm của mình cha bà biết chỉ có châu Âu mới giúp con gái ông phát triển hết tài  năng. Khi bà 17 tuổi ông đưa cho con gái một tấm vé máy bay đi Pháp và nói : « Đây chính là gia tài cha để lại cho con hãy cố gắng học hỏi trau dồi kinh nghiệm tích lũy tài năng để sau này có thể về giúp cho đất nước Việt Nam ta. »

Thế là thiếu nữ trẻ là bà ngày ấy đến Pháp. Thoạt đầu bà đi chơi đàn ở khắp nơi chủ yếu là trong các nhà thờ đầu tiên là để kiếm tiền sống để thăm thú nước Pháp và sau đó là để học tiếng Pháp. Sau vài năm vùng Alsade Đông Bắc nước Pháp đã thu hút bà với vẻ đẹp thơ mộng lãng mạn của nó. Bà ghi tên theo học cao học âm nhạc tại trường đại học Strasbourg. Ra trường bà chọn nghề dạy học vì cho rằng nghề này vừa giúp ích cho người lại có thể chăm lo con cái được chu toàn. « Thế rồi đến năm 1975… bà kể tiếp có rất nhiều dân di cư tràn đến Pháp. Do thích viết lách và có đầu óc tổng hợp tôi được các Trung tâm Xã hội vùng Alsade và Lorraine đặt viết những cuốn sách dạy và học tiếng Pháp dành cho những người Việt nam Trung quốc Lào hoặc Căm-pu-chia và các miền châu Phi... » Rồi từ đó những cuốn sách về thống kê họăc về các ngành nghề như các cuốn Métiers du Việt Nam Etre Vietnamien dans la société vietnamienne… lần lượt ra đời. Bà luôn nhận được những đơn « đặt hàng » viết sách từ các ban ngành nhưng nhiều nhất vẫn là của Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp. Bà tâm sự « Viết sách không chỉ là để viết mà còn là phương tiện để trao đổi chia sẻ để cho các con em Việt Nam nơi Hải ngoại thấy được dù là mình nghèo nhưng nếu có được một nền giáo dục căn bản chín chắn của truyền thống Việt nam và mình không bao giờ quên quê hương của mình… thì chính điều đó mới làm cho các bạn bè năm châu nể sợ… » Sau hơn năm mươi năm bôn ba trên xứ sở Gaulois bà đã từng làm việc cho Liên Hợp Quốc và Cộng đồng chung Châu Âu. Khi được hỏi về vấn đề này bà nhỏ nhẹ : « Từ năm 1989 Liên Hợp quốc gọi tôi về làm việc trong các trại tỵ nạn để phỏng vấn để lập các dự án cứu trợ những thuyền nhân không chỉ của riêng Việt nam mà còn của tất cả các nước châu Á. Vào năm đó tất cả các trại tỵ nạn đồng loạt đóng cửa hoạt động nên Cộng đồng chung Châu Âu và Liên Hợp Quốc ngồi vào bàn đàm phán để tìm ra các giải pháp giúp đỡ. Một số có khả năng đi được nước thứ ba thì tạo điều kiện cho họ xuất cảnh một số khác thì phải trở về Việt Nam. Cộng đồng chung Châu Âu đã rất tích cực trong vấn đề này. Tôi đã quay về làm việc tại Hà Nội năm năm liền cho đến năm 1994 tôi trở lại làm việc cho Liên Hợp Quốc vì thực ra vẫn còn rất nhiều trại tỵ nạn thậm chí là các nhà tù. Nhất là ở Á Đông nhiều người vẫn mòn mỏi trong các nhà tù ở Thái Lan. Sau đó tôi về Pháp và lại được điều động đến các nước Trung Âu… » Bà cứ như chìm vào những dòng hoài niệm tôi đánh liều quay lại với mục đích chính của chuyến viếng thăm bà ngày hôm nay của mình : Đó là hoạt động của Hội Việt Pháp do bà là chủ tịch đã gây được tiếng vang khá lớn tại thành phố nằm bên bờ biển Địa Trung Hải này. Bà hồ hởi kể hiện tại Hội vừa tổ chức thành công chuyến du lịch cho hơn ba chục cha mẹ đỡ đầu cho trẻ em Việt nam. Là người dày dạn trong các trại tỵ nạn nên bà biết cần phải làm gì để giúp những người dân cỡ nhỡ. Hiện tại Hội đã làm xong dự án và chuẩn bị xây cất một ngôi trường khang trang trên mảnh đất Cái mơn. Bà ngậm ngùi kể : « Sau hơn năm mươi năm bôn ba xứ người tôi trở về làng thì nó vẫn nghèo như vậy chỉ có thêm được con đường tráng nhựa điện thì mới mắc được hai năm bà con vẫn phải dùng nước mưa hứng từ mái tranh. Hội muốn xây dựng một ngôi trường và một Trung tâm xã hội để các phụ nữ trong xã có thể đến gửi con mà an tâm đi làm và các cháu có một nơi ăn chốn ngủ đàng hoàng và có nguồn thức ăn tốt có một nền giáo dục hợp lý thuần Việt. Có nơi khám sức khỏe cho chị em phụ nữ và các cháu bé… » Hội đã đỡ đầu cho một số trẻ em (10 em) mỗi tháng là 20 Euro (tương đương 500.000 đồng việt nam). Hiện tại bà cho biết thêm Hội cũng đã tổ chức được một lớp tiếng Pháp tại quê nhà vì đây bà tự hào nói là cái nôi của Trương Vĩnh Ký (Nhân vật này rất nổi tiếng tại Pháp trong thời kỳ xa xưa và cho đến tận bây giờ) thì phải phát triển tiếng Pháp chứ ! các cháu đã có thể hàng tháng viết thư thăm hỏi và kể những thành tích cho các cha mẹ nuôi. Khi được hỏi những công việc bà đang thực hiện ngoài những ủng hộ của bà con bạn bè thân hữu thì bà có được hưởng trợ cấp gì của các cơ quan đoàn thể chính quyền của Pháp. Bà vui lòng nói luôn : « Hiện giờ tôi đang làm việc tích cực với Ủy ban hành chính thành phố Perpignan để xin thêm trợ cấp. Hội đã được một ông Nghị sĩ - Thị trưởng thành phố Pollestres tên là Daniel Mach thương thuyết trích cho một khoản tài trợ hàng tháng ». Mỗi lần khi Hội tổ chức tết hay các ngày lễ trọng đại của Việt Nam thì Ủy ban thành phố không chỉ giúp tài chính mà còn giúp các mặt khác như cho mượn bàn ghế địa điểm và các trang phục dụng cụ để tổ chức đêm nhạc. Khi tôi rụt rè hỏi về gia đình thì bà vui vẻ nói: Bà sinh được ba người con các con bà đều nói thạo viết thông tiếng Việt thậm chí cả đứa cháu ngoại 5 tuổi cũng nói tiếng việt liến láu. Còn ông chồng người Anh Collins Peel của bà là giáo sư đại học và nhà văn thì khi thấy vợ và các con cứ « ăn cơm nhà vác tù và… » lo cho Việt Nam thì lúc đầu cũng không hơi bằng lòng nhưng là người yêu văn học đất nước và con người Việt nam nên cuối cùng ông cũng bằng lòng để cho bà làm việc. Bà trầm xuống như tâm sự : « Tôi thật buồn khi thấy những đứa trẻ Việt sinh ra ở đây mà không nói được tiếng Việt. Tôi thấy cha mẹ chúng đang để mất đi một cái gì đó vô cùng quý giá mà không biết… » Mắt bà rạng ngời khi nói về những dự án những ý định bà muốn giúp đỡ mảnh đất thương yêu của bà tại Việt nam mà tôi thấy vui lây. Giữa mảnh đất tràn đấy ánh nắng và gió tramontane thổi không ngừng kia có một trái tim hồi hộp đập. Đất nước Rồng Tiên tưởng như xa thế nhưng cũng thật gần gũi. Khi được hỏi bà muốn nhắn nhủ gì với thế hệ trẻ Việt Nam đang sống ở Hải Ngoại thì bà nhắc lại câu nói xa xưa của cha bà : « Tôi muốn các em học hỏi trau dồi kiến thức tụ tập hiểu biết rồi đem tài năng về phục vụ quê hương ! »

Những đóng góp của bà theo bà nói thật nhỏ nhoi nhưng phải làm cho tốt làm đúng làm thật chỉ có sự thật mới tồn tại được lâu. Thật đúng như cái tên của bà : Nguyễn thị Thật người con của làng Cái Mơn yêu thương.

Paris 05 tháng sáu năm 2008

Hoàng Hà(Hieu Constant)

 

More...

Lòng dũng cảm của một người mẹ

By Lê Thị Hiệu

                                                        

Lòng dũng cảm của một người mẹ

Tác giả: Marie-Laure và Anne Berthod

Khi biết đã bị vướng phải một căn bệnh hiểm ngèo và sắp chết đến nơi Thì người ta sẽ có những phản ứng gì đây? Ngồi than vãn cho số phận hẩm hưu của mình? Chán ngán đến cả người thân thích và bỏ rơi mọi thứ?... Nhưng trong cuốn sách này chúng ta sẽ chứng kiến một câu chuyện đầy xúc động vì người mẹ trẻ của gia đình này đã làm một việc phi thường chị đã tự xoay sở tìm một gia đình sẽ nhận nuôi và chăm sóc bốn đứa con thơ dại của mình. Câu chuyện và nhân cách của chị đã khiến toàn thể nước Pháp xúc động làm xao động giới truyền thông truyền hình cũng như các báo viết.

Làm sao có thể sống những ngày cuối cùng của đời mình khi ta chưa đến tuổi bốn mươi và là mẹ của một gia đình đông con đây? Mùa xuân trước Marie-Laure Picat được bác sĩ cho biết mình đã vướng phải một căn bệnh ung thư nan y và đã ở giai đoạn cuối. Ý nghĩ đầu tiên của chị khi được tin này là các con chị: chúng sẽ ra sao sau khi chị chết đi? Cương quyết đảm nhận vai trò người mẹ đến cùng chị đã tự mình đứng ra chọn một gia đình sẽ có thể đón tiếp và nuôi dạy các con chị đến tuổi trưởng thành. Ngay tức thì chị vướng phải bức tường lửa: Không không phải chị là người sẽ quyết định tương lai cho các con mình sau khi chết đi mà là thẩm phán. Không chẳng có gì đảm bảo là các con chị Julie Thibault Matthieu và Margot sẽ được nuôi dạy và lớn lên cùng nhau. Không chúng sẽ không sống ở nơi chúng đã được sinh ra và lớn lên.

Bực mình đến mức nổi lọan trước sự trớ trêu quá lố của tình hình đó Marie-Laure đã báo động đến giới truyền thông giới này đã phát động một phong trào tương thân tương ái rầm rộ và đã truyền đi khắp nơi bức thông điệp. Lòng dũng cảm của một người mẹ trẻ đã khiến cả nước xúc động và chị đã nhận được một sự ủng hộ tưởng chừng như không thể.

Bị chính mẹ ruột của mình bỏ rơi khi còn rất nhỏ và được người cha độc đoán nuôi dưỡng và chị cũng đã từng bị chính cha ruột của mình sàm sỡ ông lại chẳng biết trò chuyện gì với con gái mà chỉ lai lưng đi làm để nuôi đàn con và im lặng khi chúng cất lời hỏi về người mẹ bạc bẽo nên Marie-Laure biết rõ những tác hại của sự im lặng. Chị chẳng muốn giấu các con điều gì và chọn cách đơn giản nhất hợp lý nhất để nói chuyện với chúng. Chị đã quên đi tất cả để sống trọn vẹn một đêm Noel cuối cùng của mình với chúng. “Tôi chẳng muốn từ chối chúng điều gì trong đêm nay cả chị nói.”

Đôi lời về tác giả: Marie-Laure Picat sống ở Puiseaux một ngôi làng gần thành phố Orléans với bốn đứa con của mình chúng mới lên mười một tám năm và hai tuổi.

Chị đã từng làm việc rất lâu trong một xí nghiệp chuyên đóng bìa sách. Khi bị bệnh chị ở nhà chăm nom gia đình và con cái. Cuốn sách được viết với sự hợp tác của nữ nhà văn Anne Berthod.

Cuốn sách là một câu chuyện có thật những sự kiện trong truyện đã từng được đọc được trình chiếu trên truyền hình và báo chí Pháp. Nhà đạo diễn và dẫn chương trình truyền hình Christophe Dechavanne đã mua bản quyền sách để dựng thành phim. Cuốn sách đã là best sellers của Pháp trong nhiều tháng liền sau khi xuất bản.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cũng bạn đọc.

Paris ngày 12 tháng năm năm 2009

Hiệu Constant

 

Tên sách nguyên bản: Le courage d’une mère

Tên Việt: Long dũng cảm của một người mẹ trẻ

Nhà xuất bản XO & Oh

Năm xuất bản: tháng ba năm 2009

Tác giả: Marie-Laure và Anne Berthod

Số trang: 260

More...

Cuộc sống sẽ qua như một giấc mơ

By Lê Thị Hiệu

                                                                       

Cuộc sống sẽ qua như một giấc mơ

 Tác giả: Gilles Jacob

NXB Robert Lafont

Hình ảnh của ông gắn liền với “diễu hành trên thảm đỏ” vẫn luôn khiến bao người mơ ước mỗi năm trên Croisette trong hai tuần cuối của tháng năm: kể từ năm 1977 Gilles Jacob là linh hồn của Liên hoan phim Cannes. Ông biến nó thành Liên hoan phim lớn nhất thế giới vượt quá cả đường biên giới Pháp ông là một trong những người có ảnh hưởng nhất của vũ trụ phim ảnh. Nhưng ông cũng là một trong những người giữ nhiều bí mật nhất trong giới này: việc ông xuất bản cuốn Hồi ký của mình là một sự kiện lớn. Thâm nhập vào thế giới điện ảnh từ năm mười tám tuổi để rồi chẳng bao giờ thoát ra khỏi đó nữa con người yêu say mê nền Nghệ thuật thứ bảy này dí dỏm nói rằng ông đã có “những hai cuộc đời: sinh học và điện ảnh hai cuộc sống này luôn nuôi dưỡng nhau hệt như hai chị em sinh đôi vậy”. Từ những kỷ niệm về một thời trẻ rất ghi dấu ấn bởi cuộc chiến tranh thế giới thứ II (xuất thân là người do thái ông đã sống một phần đời chui lủi trong nhà các học sinh trường dòng các tu viện đến việc mô tả các điểm quan trọng của những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất. Về những cuộc gặp gỡ của ông với những “con quỷ đặc biệt” mà họ đã đem lại cho ông niềm vui sướng tột cùng nhất của ngành điện ảnh trong Liên hoan phim Cannes. Lời tự sự của ông là hình ảnh của “cuộc đời kép” này lên tiếng: bằng một lối văn phong và suy nghĩ lịch lãm nhiều cảnh hợp tuyển (cuộc gặp gỡ với Pialat đám tang của Fellini…) và được sử dụng bằng lối bằng một đoạn giới thiệu rực rỡ (Sharon Stone Clint Eastwood Jack Nicholson Depardieu Adjani Deneuve Orson Welles Hitchcock…) Sự ngưỡng mộ của ông đối với các nữ minh tinh đặc biệt là Juliette Binoche; Isabelle Rossellini; Jeanne Moreau người ông ông cho rằng rằng rất gợi tình thông minh ranh mãnh đầy tài ănng; Catherine Deneuve mà ông gợi lại chuyện bà đã rất sợ khi phải nói chuyện trước công chúng nhưng cũng là một ngôi sao tài năng và kiều diễm; Isabelle Hubert mà ông đã chọn làm chủ tịch Liên hoan phim Cannes 2009. Cả chuyện có hai đạo diễn đã từ chối nhận chức chủ tịch liên hoan: Carlos Saura và Andrzej Wajda. Tình bạn cảu ông dành cho Daniel Toscan. Những thói đỏng đảnh của một số chính trị gia và còn hơn thế nữ những người sống quanh họ. Cảm xúc của ông trong lần kỷ niệm thứ năm mươi Liên hoan phim Cannes. Sự lịch lãm bất biến của Clint Eastwood nhân một ngày động đất. Những lúc công bố giải tổ chức thành lập ban giám khảo sự đảo ngược hoàn toàn tình thế. Những cuộc mặc cả rõ rệt và khó tin để có được một bộ phim. Chừng ấy những nhân vật quan trọng lại trở thành những nhân vật trong cuốn sách này mà ông thường tiết lộ ra trong một khía cạnh rất đáng mến mà dẫu vậy chẳng hề làm nhẹ đi những mặt tối khác của họ… Hệt như ông viết: “Cannes không phải là một thiên đường cho những tâm hồn nhạy cảm”.

Người ta chỉ hơi nhận ra ông chừng mười lăm ngày mỗi năm con người cao thanh mảnh đứng trên cao những bậc thềm đỏ của Liên hoan phim Cannes để đón tiếp bắt tay các đạo diễn này ghé hôn má các nữ minh tinh màn bạc khác hệt như ta có thói quen tiếp khách mời ở nhà mình họ đôi khi là những người bạn. Từ hơn ba mươi lăm nay Gilles Jacob trong thơig gian dài đã từng là người chọn phim hiện gìơ là giám đốc điều hành toàn bộ Liên hoan mà ông đã kiên nhẫn biến sự kiện thượng lưu thành lễ hội điện ảnh. Đó là sự gần gũi ân cần đôi khi thán phục đối với với những nhà sáng tạo vĩ đại mà ông kể trong cuốn sách: gặp gỡ (muộn màng) với Woody Allen thương lượng (bất thành) với Martin Scorsese ăn trưa với Clin Eastwood vào ngày bị động đất ở Los Angeles là những trang viết xúc động nhất.

“Cuộc sống sẽ qua như một giấc mơ”. Câu tựa đề tác phẩm của Gilles Jacob nhưng cũng là hợp ý nguyện của những ai muốn biến niềm say mê của mình thành một nghề nghiệp thực sự thậm chí là cả một đời người. Biến cuộc sống diễn ra như một giấc mơ giống như trong điện ảnh mà đôi sư cuộc đời thực và giấc mơ cứ hòa lẫn vào nhau trong một bản tăng gô mê say

Những bí mật của Liên hoan phim Cannes ư? Gilles Jacob cũng tiết lộ một số theo nghĩa tự nói xấu mình vốn là bản chất của ông:  những giằn vặt của người tuyển lựa phim  mới vào nghề chuyến công tác trong một thành phố Moscou hồi còn chủ nghĩa Cộng sản những vật báu của ngành ngoại giao được sử dụng tùy theo đối với các nhà văn hay các chính trị gia. Ông nấn ná hơi lâu trên hai ban giám khảo (và hai bản danh sách được giải đã ra đời trong đau thương) một do Isabelle Adjani không điều khiển được chiến lược của chính mình – cô coi Nani Moreti là đồ xảo trá và Mike Leigh là đồ “thằng lùn trang trí vườn”! và Liên hoan do Roman Polanski chơi trò láu cá mơ màng trao hết các giải cho bộ phim Barton Fink của anh em nhà Coen. Những giai thoại mang tính kiên cường này được kể lại với một sự mai mỉa ác độc tác giả chắc chắn có hàng chục…

Nhưng khi ông tiết lộ một cách thân mật hơn pha trộn như trong một sự tương phản giữa bản tiểu sử của ông và những kinh nghiệm tổ chức liên hoan thì lời văn của ông trở nên xúc động hơn. Ông chủ của Liên Hoan phim hoành tráng nhất thế giới đã từng là một thằng bé do thái buộc phải ẩn náu trong vùng Tự do rồi trở thành một chàng trai trẻ hay cả thẹn mà mọi sự kiện diễn ra đều muốn cậu tiếp tục điều hành các thương vụ của doanh nghiệp gia đình thế rồi lại rơi ngay vào ngành điện ảnh và đã dành toàn tâm toàn lực cho nó. Đó là một thời kỳ khác thời kỳ mà người ta có thể đến xem Orson Welles đang trên trường quay phim Othello mà chẳng gặp khó khăn hay phải chen lấn gì có thể bắt tay nữ màn bạc thủ vai Desdémone… tất cả được diễn tả với với một sự khiêm tốn pha lẫn chút bâng khuâng khiến người đọc nao lòng. Nhiều đoạn thật xúc động đến rơi nước mắt. Gilles Jacob trích đọc lại Sam Shpard: “Cuộc sống đó chính là điều xảy đến với bạn khi bạn mơ ước làm một điều gì đó khác hẳn.” Thế nhưng cuộc đời ấy cuộc đời được đi trên thảm đỏ ấy cũng có gì để mà mơ đấy chứ.

Đôi lời về tác giả Gilles Jacob: Sinh tại Paris ngày 22 tháng sáu năm 1930 có gia đình và hai con. Sau khi qua một lớp dự bị đại học sư phạm ngành văn tại trường trung học Louis-le-Grand ông đồng sáng lập một tạp chí về điện ảnh tạp chí Raccord và tiếp tục điều hành một doanh nghiệp của gia đình chuyên về các loại dụng cụ cân đo ở thành phố Courbevoie (ngoại ô Paris) cho đến tận năm 1975. Song song với những chuyện đó ông luôn viết những abì phê bình phim cho tạp chí Cinéma 64 Les nouvelles Littéraires L’Expresse và là nhà đồng sản xuất và điều khiển chương trình Le Masque et la Plume cùng với François-Régis Bastide. Vào năm 1976 ông được Liên hoan phim gọi đến: đầu tiên là phó giám đốc ông được bổ nhiệm quyền giám đốc năm 1977 phát triển Liên hoan phim Cannes trên trường quốc tế khi thành lập các giải: Caméra d’or Un certain regard Cinéfondation và Leçon de cinéma sau đó ông được bầu là Giám đốc của Liên hoan từ năm 2000. Ông ta tác giả của nhiều tác phẩm tiêu biểu như tiểu thuyết Un jour une mouette (Một ngày một nàng hải âu) NXB Grasset năm 1964 Les Visiteurs de Cannes (Những vị khách của Cannes) xuất bản năm 1992.

          Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cũng bạn đọc

Paris 8 tháng năm năm 2010

Hiệu Constant

Tên sách nguyên bản: La vie Passera comme un rêve

Nhà xuất bản Robert Lafont

Tên tiếng Việt(tạm dịch): Cuộc sống sẽ qua như một giấc mơ

Năm xuất bản; tháng ba năm 2009

Số trang: 400

khổ trang : 22cm X 14

Người dịch:

 

 

More...

Những người đàn bà câm nín

By Lê Thị Hiệu

                                                          

Tác giả: Nadine Trintignan. Dịch giả: Hiệu Constant

Nhà xuất bản Phụ nữ

Quý I năm 2011

Những người đàn bà câm nín

***

Truyện kể về hai mảnh đời của hai nhân vật chính. Các chị đều là những người có học thức khỏe mạnh thông minh sống trong môi trường khá giả. Miléna một diễn viên múa sau này là người tạo mốt cho các diễn viên. Pauline bác sĩ nội trú. Hiện tại Miléna là một người đàn bà hạnh phúc chồng chị Jacques một giáo sư sử học có danh tiếng và rất yêu chị anh sẵn sàng làm mọi chuyện để chị được hạnh phúc và đưa chị ra khỏi những giây phút thất thần. Nhưng Miléna theo như chị nói để bảo vệ anh nên không thể tiết lộ được quãng đời trước đây của mình tức quãng đời trước khi chị gặp Jaques. Nhưng rồi một hôm chị đã gặp lại anh ta André. André là một họa sĩ danh tiếng giàu có bề ngoại thanh lịch nhưng lại rất tàn bạo anh ta đã giết chết người yêu bằng chính đôi tay chuyên cầm bút vẽ của mình chỉ vì người này sau một thời gian chung sống đã phát hiện ra con người thật của anh ta và muốn chia tay. Rồi hắn gặp Miléna chị thoạt đầu say sưa hạnh phúc nhưng rồi cũng phát hiện ra bản chất thực vũ phu của người bạn tình hắn đã nhiều lần đánh đập và dọa giết chị chị dời bỏ hắn nhưng khi ấy chị đã có thai. Chị bỏ trốn khỏi nhà nhưng André luôn truy tìm trong nhiều năm liền không phải hắn yêu chị mà hắn không chịu được ý tưởng bị qua mặt. Miléna sinh hạ được một đứa con trai nhưng sợ André tìm thấy sẽ hại chết con trai mình chị đã đau đớn ủy thác nó cho một sản phụ cùng phòng mà đứa con của chị ta đã bị chết yểu ngay sau khi sinh Lily Rose. Người này cũng đã nói dối chồng và người chồng đã tin đó là đứa con đích thực của họ. Và chính vì vậy mà trong suốt nhiều năm liền Lily Rose đã bị nữ y tá người đã đổi con cho chị dạo trước tống tiền.

Pauline nữ bác sĩ nhiệt tâm yêu nghề. Trong một lần tình cờ xe chị bị hỏng Blaise một chủ doanh nghiệp đã chơi trò người hùng ra tay trợ giúp và họ đã trở nên thân thiết và dọn đến ở cùng với nhau. Nhưng chỉ được một thời gian Blaise đã lộ rõ là kẻ bạo lực ghen tuông đến bệnh hoạn hắn hết bạo hành tư tưởng như luôn nói Pauline chẳng có tài cán gì chị chẳng có giá trị gì và không muốn chị đi trực đêm bắt chị phải cắt đứt tất cả các mối quan hệ với cha mẹ anh em bè bạn. Anh ta dọa sẽ gây hại cho những người thân của chị nếu chị còn tiếp tục qua lại với họ. Dần dần Pauline buông xuôi tất cả chỉ mỗi lòng yêu nghề khiến chị trụ vững được. Nhưng đã hai lần chị suýt bị Blaise đánh cho đến chết nếu không có sự can thiệp bất ngờ của người khác.

Số phận trớ trêu đã tạo cảnh cho Pauline và Miléna gặp nhau. Hai người mau chóng thân thiện. Nhưng chỉ đến khi Miléna bất ngờ gọi điện cho François một nhân viên cảnh sát chìm của bộ Ngoại giao Pháp đến để giải thoát cho chị khỏi một kẻ đang bám riết theo chị và muốn giết chị nhưng lại không nói là ai. Bằng tình yêu của mình dành cho Miléna (nhưng chỉ yêu thầm) và tình bạn dành cho Jacques (chồng của Miléna) mà François rút cục đã tìm ra được nguyên nhân nỗi sợ hãi của Miléna.

Phần kết thúc truyện có hậu các nhân vật chính của chúng ta đã tìm được lối thoát và được giải thoát khỏi những con người vũ phu ghê tởm mặc dù phải trả giá.

Trong truyện khá nhiều tình tiết nhiều tình huống nhiều cuộc hội thoại nhưng tác giả Nadine Trintignant không phán xét không kết luận bà chỉ kể những câu chuyện dù là hư cấu nhưng rất có thể xảy ra trong cuộc sống thực. Và sự thờ ơ của những cơ quan có thẩm quyền trong vấn đề này. Cuốn tiểu thuyết đi sâu vào điều cấm kỵ mà ít ai dám nói tới: nạn bạo hành trong gia đình nhất là trong xã hội trung thượng lưu. Đây như một lời cảnh báo đối với chị em phụ nữ: bên cạnh chúng ta còn rất nhiều người tốt trong cả hai giới họ sẵn sàng chìa tay giúp đỡ chúng ta. Chia sẻ tâm sự đúng lúc đúng chỗ sẽ là liều thuốc hữu hiệu và phương pháp đúng đắn nhất để chống lại nạn bạo hành ghê sợ trong mỗi gia đình.

Đôi lời về tác giả Nadine Trintignant: Nhà văn nhà đạo diễn phim nổi tiếng của Pháp. Bà đã phải chật vật để gượng dậy sau khi con gái Marie Trintignant bị người yêu - một ca sĩ khá tên tuổi - đánh chết ngay trong khi tập cuối cùng của bộ phim dài tập Collette mà Marie Trintignant thủ vai chính được hoàn thành. Cuốn sách Marie con gái tôi của bà đã gây rất nhiều cảm động trong giới bạn đọc.

Cuốn Những người đàn bà nín lặng đã được giới phê bình Pháp đánh giá cao trong đề tài chống bạo hành trong gia đình.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Paris 10 tháng 12 năm 2009

Hiệu Constant

 

Tên sách nguyên bản: Les silencieuses

Tên tiếng Việt: Những người đàn bà câm nín

Tác giả: Nadine Trintignan

Nhà xuất bản: Fayard

Năm xuất bản: 2009

 

Đoạn trích:

 

Mưa xối xả trên phố Alsade. Một cơn gió giật bất ngờ khiến thiếu nữ rảo bước và chiếc ô đỏ rực của cô bị thổi lật ngược. Trú trong một khuôn cửa lớn người đàn ông siết chặt dây lưng áo mưa của mình dựng cổ áo và ngay tức thì cảm nhận dòng nước lạnh đang luồn lách trong cổ. Dẫu vậy anh ta vẫn đứng bất động ánh mắt lia về phía người  đàn bà tóc hung mà hắn chỉ hơi phân biệt được qua tấm kính đẫm nước của chiếc xe Mercedes cũ.

Milena… Hắn đã vô tình lần ra được dấu vết chị ngay tại địa điểm này từ hai tuần trước. Hôm ấy hắn đang băng qua phố và chỉ kịp nhận ra chị trước vô lăng của một chiếc xe hơi đậu phía bên kia đường nhưng hắn đã buộc phải dừng lại để nhường đường cho một xe máy đang lao hết tốc độ. Milena đã nổ máy và chạy qua trước mặt hắn mà không nhìn thấy hắn.

Hắn đã quay lại đây nhiều lần nhưng vô vọng và lúc này hắn cảm thấy một sự thích thú đen tối khi cuối cùng lại nhìn thấy chị đang quá gần mình ngay trong tầm tay mình. Chị vẫn nhợt nhạt như thế vẫn mảnh mai như thế. Mái tóc hung đỏ vẫn được cắt thành nấc hệt như những năm ba mươi nhưng ngoài chuyện ấy ra chị chẳng thay đổi gì nhiều.

Xe đã tắt máy nhưng chị vẫn để đôi bàn tay dài mảnh và nổi gân trên vô lăng những ngón tay gõ đều đặn theo nhịp.

Chắc chị đang nghe nhạc.

Đối diện họ trường Alsade mở toang cửa cho lũ trẻ ùa ra. Milena liền nhấc máy ảnh lên ngay lập tức. Chị đã đặt tiêu cự ở tầm một trăm năm mươi một ống thu hình chất lượng cao để chụp cận cảnh ở khoảng cách xa như thế.

Chị nhìn thấy một thằng bé tóc vàng tơ xuất hiện. Nó đứng bất động và đưa mắt tìm kiếm mẹ. Milena tận dụng dịp đó để chụp liên tục nhiều bức sát gần khuôn mặt thanh mảnh với cặp mắt sẫm màu lóng lánh bất ngờ sáng lên dưới một nụ cười. Thằng bé huơ tay lên quá đầu về phía một phụ nữ đội mũ nồi đỏ đang chạy nhanh dưới làn mưa xối xả vì biết mình đến muộn. Người đàn bà trẻ ngay lập tức đáp lại bằng một cái huơ tay cao mà không hề giảm tốc độ chạy. Thằng bé lao đi hệt như một mũi tên về hướng mẹ nó. Milena xoay ống thu hình để lần tìm lại họ. Hình ảnh thằng bé hơi mờ đi khi lao bổ vào vòng tay dang rộng.

Milena bấm vào cơ cấu khởi động một cách máy móc.

Rồi chị buông máy đặt nó lên đầu gối mình và nhìn hai mẹ con nhà kia chạy xa dần áp sát nhau trong cùng một chiếc áo mưa mà người đàn bà mở ra che cho con trai.

Milena thắt dây an toàn bật đèn tín hiệu xin đường và chuyển bánh. Chị chạy với vận tốc bình thường và tăng âm lượng để nghe rõ hơn một trong những bản sô-nát cuối cùng của Schubert do Radu Lupu trình tấu. Chị thích bản nhạc này được soạn trên nền những câu hỏi mà không có lời đáp hệt như đàn cá vàng quay quay vô định trong cái bồn của chúng.

Vẫn tiếp tục vừa lái xe chị vừa xếp máy ảnh vào bao của nó mà chị vẫn có thói quen đeo lủng lẳng trước ngực.

Chị hạ thấp chút cửa kính để xua tan làn hơi nước. Sau làn kính ấy cảnh vật bị nhòa đi nhưng chị lại nhanh chóng đóng lại ngay để tránh mưa.

Liếc nhanh vào kính chiếu hậu chị nhận ra một chiếc Peugeot xanh lơ chạy rất gần mình chị liền nhấn ga. Chiếc xe hơi vẫn tiếp tục đuổi theo chị đến mức nếu chị nhấn phanh nó có nguy cơ lao thẳng vào xe chị ; chị giảm tốc độ và tạt vào bên phải đường để cho nó vượt lên.

Chiếc xe hơi vượt chị với một độ chậm có tính toán. Không suy nghĩ Milena quay sang nhìn người cầm lái và một cơn hoảng sợ mạnh liệt xâm chiếm khắp người khi chị nhìn thấy hắn một nụ cười xảo trá ma mãnh nở trên môi xuyên qua làn mưa ngăn cách họ. Mặc dù đám hơi nước trắng nhờ đã lại tô mờ cửa kính nhưng chị gần như chắc chắn đó chính là André Bricard. Chị không sao kìm nổi cái giật nảy mình đang khiến chị chao đảo.

Chiếc Peugeot lúc này chạy trước mặt chị. Chị không hề chắc chắn nhưng do bị sợ hãi chế ngự liền rẽ trái vào phố Vavin và chạy sang đại lộ Raspail. Chị lao nhanh và không còn dám nhìn vào kính chiếu hậu nữa vượt qua đèn vàng ở ngã tư phố Sèvres phi thẳng đến đại lộ Saint-Germain băng vụt qua nhưng vẫn giữ khoảng cách để tránh một xe máy rồi chạy dọc phố Bac và khi đến đèn đỏ đầu tiên chị liền rẽ vào phố Université bên tay trái mình.

Tim đập thình thịch chị lại đưa mắt liếc vào kính chiếu hậu. Chiếc xe Peugeot vẫn đằng sau chị. Một luồng mồ hôi lạnh giá chạy dọc sống lưng. Sau chừng ấy năm liệu hắn có thể tìm thấy chị không… ?

Theo dòng năm tháng nhờ sự thanh thản nồng hậu của chồng chị là Jacques mà chị đã dần dần thâu phục lại được niềm tin chắc chắn rằng cơn ác mộng của mình đã thực sự chấm dứt.

Chị đã thôi không trốn chạy nữa.

Đúng thế nhưng Jacques không biết người đàn ông này. Anh thậm chí còn chẳng bao giờ nghe nói đến hắn bởi anh cuối cùng đã phải chào thua trước sự câm nín khăng khăng của vợ khi đối diện trước những câu hỏi mà anh đặt ra về điều gì khiến chị sợ hãi. Anh không hề biết rằng chỉ để bảo vệ anh chính anh mà chị đã im lặng về người đàn ông ấy người mà ngày xưa chị đã từng ngưỡng mộ phong cách vẽ quá riêng biệt của anh ta và chị đã từng hạnh phúc biết bao trước khi chìm vào trong một mùa ủ rột đen tối và người mà trên thực tế khi ấy chị đã nhận ra hắn ta còn khủng khiếp hơn cả một sự nguy hiểm.

Rồi cuối cùng chị đã nghi ngờ chính tình yêu.

Chị biết rằng Bricard có thể bộc lộ bản chất ngông cuồng sát sinh đối với chị nhưng nhất là cho cả Jacques nữa : ngay khi hắn biết chị đã lập gia đình thì hắn chắc hẳn sẽ kiên trì tìm kiếm đến dai dẳng kẻ nào đã dám đưa Milena trở về với cuộc sống hắn ắt sẽ lăn xả vào chống lại người đó và Jacques khi ấy sẽ gặp nguy khốn mất.

Chị lại quay lại đại lộ Saint-Germain rẽ vào phố Bourgogne. Hết sức căng thẳng và hơi thở ngắt quãng. Trên phố Varenne lợi dụng một khuôn cửa lớn mở toang chị ngẫu ý lao vào trong sân và luống cuống xuống xe suýt trượt trên nền đá trơn và bỏ chạy chiếc áo mưa của chị bay phấp phới quanh người. Chị leo hết tốc độ lên các bậc thềm của một cầu thang bằng đá hoành tráng.

Đến tầng hai chợt nghe thấy những giọng nói ồn ào loáng thhoáng vẳng ra phía sau một cánh cửa vẻ ngơ ngác chị liền bấm chuông và gọi kêu cứu. Những giọng nói im bặt. Chị lại tiếp tục chạy.

Khi đến tầng bốn thì chị nghe thấy tiếng chân chạy trong cầu thang rồi một người đàn ông hét lên và trước những trọng âm của giọng nói kinh tởm ấy thì chị chắc chắn mình không nhầm. Đó chính là André Bricard đang gào tướng :

- Tao đã báo trước cho mày rồi đó ! Mày biết rồi đó rằng tao sẽ tìm ra mày ! Mày làm cái khỉ gì trước ngôi trường đó hả rồi còn chụp ảnh nữa ? Cái nghề nghiệp bẩn thỉu bây giờ của mày là gì ? Là thám tử tư chắc ?

Có tiếng ồn ào kéo theo. Những tiếng đàn ông chát chúa đập lại nhau. Đó là người gác cổng tòa nhà đang đuổi Bricard ra khỏi cửa nhưng từ chỗ chị đang đứng Milena không nghe rõ những câu đối đáp của họ.

Đến tầng trên cùng thấy một cánh cửa khép hờ và chị bước vào trong một căn hộ đang sửa chữa. Có vẻ như hoang vắng. Chị chui vào ẩn trong gian cuối cùng. Sợ hãi chị ngồi phủ phục đằng sau cánh cửa và lần tìm điện thoại di động. Nhưng không được làm Jacques lo lắng rồi chẳng hiểu tại sao chị chọn gọi cho François.

Người này đang ăn một chiếc bánh pizza mà anh vừa hâm nóng trong lò vi sóng thì điện thoại réo vang trong căn hộ ở Paris của anh. Căn hộ chẳng có gì độc đáo cá nhân cả đến nỗi mà ta hẳn có thể ngỡ đó là một phòng khách sạn. Sự hiện diện của anh chỉ biểu thị ở những cuốn sách được vất vương vãi rải rác khắp nơi và chiếc máy nghe iPod đặt trên chiếc bàn thấp anh đã chọn cho mình một cuộc sống không gắn bó gì cả luôn luôn như trong sự quá giang.

Anh nghe mà không nhận ra ngay giọng nói của Milena chị nói rất khẽ trên một lưu lượng hấp tấp vốn không phải là cách thường xuyên của chị.

- François hả ? Hắn đã tìm thấy tôi… Hắn luôn tìm thấy tôi…

- Ai kia ?

- Hắn đã báo trước cho tôi biết rồi.

- Nhưng chị đang nói về ai vậy ?

- Hắn đã nói với tôi : « Nếu một ngày nào đó ta không khiến em hạnh phúc nữa thì ta sẽ gây cho em rất nhiều bất hạnh… »

- Ai mà nói vậy ?

- Tôi sợ lắm. Hãy đến đi !

- Đương nhiên rồi. Nhưng ở đâu ?

- Phố Varenne ngay cạnh phố Bourgogne… Khuôn cửa lớn… trong sân… Tôi đang ở tầng trên cùng.

- Ở yên đó nhé. Tôi đến ngay.

Anh gác máy bỏ mặc chiếc bánh pizza vừa mới đụng tắt máy iPod. Giọng hát của Dutronc phụt tắt Paris thôi thức giấc. Bài hát thích nhất của Marge đã bị gián đoạn. Anh vơ áo khoác và ra khỏi nhà đóng sập cánh cửa.

Trong xe hơi mà anh chạy đến mức nhanh nhất François nghĩ tới Milena. Trong lần gặp gỡ đầu tiên của họ : đó là vào một mùa hè nóng và uể oải như chỉ Paris mới thấu. Jacques bạn thân nhất của François đã nhất thiết muốn giới thiệu anh với Milena người mà Jacques yêu say đắm.

Họ đã gặp chị ngồi trên những bậc thềm của ngôi nhà nhỏ ở Buttes-Chaumont gần vườn cha cố. Lũ mèo con những hòn lông tròn gần giống như những đồ chơi cất tiếng kêu meo meo ra vẻ phàn nàn trên đầu gối người phụ nữ trẻ. Chị giữ một con nằm cuộn tròn trên cổ mình tựa như để cảm nhận độ êm ái. Màu xanh nước giống hệt màu mắt chủ nhân chiếc váy chị phấp phới uyển chuyển xung quanh cơ thể mảnh mai của chị. Khi nhìn thấy Jacques và François đến nơi chị liền đứng dậy vẻ lịch lãm quý phái và chìa chú mèo cho mẹ nó đang cọ chân chị để đòi con.

- Đây đồ đàng điếm ! Mày đã có những em bé này ấy với đứa nào vậy hả?

Chị mỉm cười với François. Anh nghĩ ngay rằng với mái tóc cắt thành nấc hung đỏ khuôn mặt tai tái cặp mắt tô chì đen chị như vừa ra khỏi một bộ phim câm. Chị lấy một mũi bàn chân trần của mình để âu yếm con mèo mẹ nó cũng hung đỏ hệt như chị.

Chị chìa tay và nói với François :

- Jacques đã nói chuyện với tôi rất nhiều về anh. Theo lời anh ấy thì anh là người bạn hoàn hảo nhất đấy.

- Đó là do hắn không thể khách quan được thôi…

Chị quan sát người đàn ông mang vẻ quyến rũ tự tin với mái tóc dày chĩa tung tứ phía và ánh mắt hiền luôn thảng thốt chị mỉm cười với anh.

- Chính xác đấy !

Chị bước vào nhà theo sau là hai người đàn ông và nói với François hay đúng hơn như một sự lịch lãm tế nhị:

- Nhưng anh ấy đã không bao giờ nói cụ thể với tôi là anh làm gì ! Ý tôi muốn nói là nghề gì.

- Tôi cố phải sống thôi.

Tò mò chị cố nài :

- Hiện giờ à ?

- Ví dụ thế.

- Còn trước đây thì sao ?

- Ồ trước đây…

Anh không nói hết câu. Chị nhìn anh chăm chú với nụ cười bí ẩn chỉ của riêng chị rồi gật gật đầu mà không nói thêm gì nữa.

Ánh mắt của Jacques hết nhìn vợ lại chuyển sang bạn. Từ đáy sâu tâm khảm anh tự hỏi mình rằng cả hai người này có chung một nghệ thuật né tránh một cách khéo léo khi người ta đề cập đến quá khứ của họ.

Ngày hôm đó để chế giễu họ một cách âu yếm Jacques đã gọi họ là « hai nấm mồ yêu thích nhất của tôi ».

… Đúng lúc François trượt qua một vũng nước thì trong góc chết của xe mình một chiếc xe máy vượt anh với tốc độ lớn buộc anh phải dừng lại. Đúng là một giờ tồi để chạy xe trong Paris.

Anh cảm thấy một niềm vui thầm kín trước cuộc gọi cầu cứu bất ngờ của Milena. Đây đúng là lần đầu tiên chị cầu viện nơi anh như vậy và dẫu anh tự cấm mình không được coi chị là gì khác ngoài một người bạn thân anh biết… Vâng anh biết mình đã bấn loạn biết bao trước vẻ lịch lãm đài các toát ra từ chị ngay trong buổi gặp gỡ đầu tiên của họ trên những bậc thềm nhà cái buổi tối ấy đã trở nên xa xôi lắm rồi. Trong suốt bữa ăn tối anh đã cảm thấy chị như đang ở đâu đâu đôi khi không còn nghe hai người đàn ông nói chuyện nữa mà phấp phới trong một vũ trụ nào đó mà chỉ mình chị biết. Tâm hồn chị đang lẩn quất ở nơi nào trong những lúc ấy nhỉ ?

Có thể hôm nay anh sẽ tìm thấy chìa khóa cánh cửa bí mật của chị chăng ?

Jacques đã cảnh báo trước cho anh: rằng có điều gì đó đã xảy đến với Milena ngày xưa điều mà có lẽ đã khiến chị xấu hổ. Chị biết chồng mình luôn sẵn sàng để hiểu vợ để có thể chấp nhận được tất cả dẫu cho chị đã từng làm điều gì rất khủng khiếp đi nữa nhưng không một lập luận nào của anh đã thuyết phục được chị tâm sự cho anh biết nỗi niềm sâu kín của mình.

François nhận ra khuôn cửa lớn nằm trên phố Varenne anh liền hối hả đậu xe cạnh một thềm vỉa hè và chạy bổ vào sân.

Chiếc xe Mercedes đậu ngang trong sân.

Anh leo nhanh lên cầu thang bộ tráng lệ. Lên đến tầng trên cùng cánh cửa vẫn chỉ khép hờ. Anh tìm thấy người phụ nữ trẻ trong gian cuối cùng ngồi phủ phục giữa đống đồ thải mục nát chiếc áo mưa của chị xoải rộng hệt như một tràng hoa xung quanh chị. Trán ấp lên đầu gối hai tay bịt chặt tai.

Anh cúi xuống sượt tay lên vai và thì thầm gọi tên chị. Chị nhỏm phắt dậy miệng thở hổn hển và ánh mắt xúc động. Sự nhợt nhạt của chị đập mạnh vào tâm hồn François anh cầm cánh tay chị để nâng dậy.

Trong chị có điều gì đó như định mệnh cứ như thể dẫu chị có làm gì đi nữa có đi trên bất cứ con đường nào thì chị vẫn tự biết mình bị đẩy về hướng của một định mệnh bất khả kháng và sự bấp bênh này lại khiến chị càng gây xúc động hơn nữa.

- Hắn đi rồi à ?

- Ai cơ ?

- Không phải đã từng có một gã đàn ông trong cầu thang bộ hay sao ?

Anh tự hỏi liệu chẳng phải chị đang là nạn nhân của một cơn ảo tưởng và ôm chặt hai vai chị để trấn an.

- Chẳng có ai cả Milena ạ. Lại đây đi.

Chị cưỡng lại ánh mắt đảo về phía cửa mở toang. François lên tiếng :

- Mà dẫu có gã nào đi nữa thì tôi sẽ giải quyết với hắn.

Chị gật đầu với vẻ không chắc chắn lắm nhưng nhân nhượng và anh dẫn chị đi tựa như anh hẳn sẽ làm với một đứa trẻ. Chị chỉ hơi đứng vững anh cảm thấy chị bị đuối sức và sự nhu mì ấy của chị cũng thật đáng yêu.

Trong sân mưa đã thôi rơi nhưng những vũng nước vẫn lóe sáng đây đó.

- Chị thấy đó thực sự là chẳng có ai cả.

Anh quyết định đưa chị về Buttes-Chaumont bằng chiếc xe Mercedes cũ của chị. Mặc xác anh sẽ đến lấy xe của mình sau vậy rất có thể sẽ là ở bãi xe phạt của cảnh sát.

Trong lúc anh đang mở cửa xe cho Milena thì người gác cổng khu nhà xuất hiện.

- Đây không phải là một bãi đậu xe đâu nhé !

François nhìn anh ta bằng mắt cởi mở.

- Chúng tôi xin lỗi bạn gái tôi đã nhầm địa chỉ.

Người gác cổng gật đầu và đứng lại. Tay chống háng ông ta nhìn Milena dẫu được François trợ giúp nhưng chị vẫn rất chật vật để leo lên xe.

- Cô ấy không được khỏe à ?

- Sẽ ổn thôi cám ơn.

- Không có vẻ ổn lắm  đâu.

Ông ta chờ François loay hoay quay xe trong sân để lái ra ngoài rồi mới quay lại chòi gác của mình.

More...

A maman!

By Lê Thị Hiệu

        

    A maman !

Maman ! Sais tu ma douleur ? Sais-tu ma souffrance ? Tu es partie vers l’autre monde nous laisser. Nous sommes devenus maintenant  des mendiants de maternité.  Au de là tu te repose à côté notre seigneur! Deviens-tu légère dans la vertu d’avoir été une excellente mère une citoyenne honnête ? Tu t’envoles à la manière d’un papillon aux ailes telles que les toiles d’araignée. Tu viens tu pars tu nous regardes mon âme est d’impoid elle est enquête de l’amour humain !

Maman tu nous as donnés assez donnés et juste donné pour que nous comprenions la vie. Tu nous as spirituellement trop donnés pour que la vie sans toi devienne pénible. Maman chérie ! Comprends que mon cœur déchiré mon âme épuisée une partie de moi aille vers toi. Quand je travaille je mange je dors tes images souriantes tendres pleines de douceurs se mêlent. Tu es là à côté de moi mais intouchable !

Souviens-toi maman quand j’étais petite chaque fois j’étais triste à cause de n’importe quoi : une heure d’école manquée à cause de la circulation ma robe préférée déchirée par les bambous qui envahissaient le chemin…Tu étais toujours là à côté pour me consoler. Intimement quand j’étais plus grande c’était toi qui m’as donné les conseils les orientations de la vie.

Souviens-toi maman les petits déjeuners que tu m’as toujours bien préparés pour moi un jus d’orange sans sucre un croissant sans chocolat parce que tu avais toujours peur que mes dents soient cariées.

Souviens-toi maman quand j’avais douze ans une grosse fièvre a failli me prendre la vie une semaine à l’hôpital toi tu n’as rien mangé ni dormi. Chaque fois j’ouvrais les yeux   c’était toi qui me prenais la main. Quand je revenais à moi-même : souriante dynamique comme j’étais à mon âge. Toi au contraire ton visage avait blêmi jaunâtre tes cheveux noirs devenus blancs après seulement quelques trentaines d’heures.

 Ton départ m’a laissé un grand espace dans la vie m’a donné une énorme tristesse. Tu sais bien maman tous les chemins que j’ai pris conduisaient vers toi y compris mes pensées mais maintenant parcourir du monde ne me rend pas ton visage. Je reste dans l’inconscience dans l’herbe dans l’air je me love dans la constance maternelle du monde et dans ton départ comme dans l’attente une seconde naissance. Immobile avec le désir de ne plus me relever de rester là mais soudain j’entends ta voix avec la musique douce insaisissable je laisse mes yeux fermés cette musique remplit l’espace je souhaite de m’endormir sur elle murmure d’éternité.

Les herbes les fleurs ont souffert avec moi de ta mort. Ton regard dispersait tant d’amours qu’il encourageait l’éclosion des fleurs. Je te cherche dans l’infini et j’ai cru croiser ton regard. Ainsi un seul échange de notre regard m’a apaisé douleur c’est donc toujours la profondeur de ton attention qui me suit qui me protège qui m’encourage.

Il y avait toujours un infini de tendresse qui coulait de toi envers moi ta tête penchée sur mon épaule tu m’apprenais les premiers mots tu me soufflais que la terre est immense que le soleil se lève toujours à l’Est et se couche vers l’Ouest qu’il y a les quatre saisons dans l’année les fleurs fleurissent au printemps et les oiseaux d’immigrés vont toujours vers le Sud chaque fois que l’hiver arrive. Tu m’avais beaucoup appris souviens-toi maman tu me disais toujours que l’amour convainc toujours la haine que on deviendrait s’ennuyer si sans travailler on ne trouvera pas le bonheur si on est égoïste qu’il faut savoir partager aux autres à la fois le bonheurs ou même… les malheurs. Maman je vois partout les empreintes  de ta vie aux endroits où nous passions aux mêmes idées qui par hasard me reviennent avec ton doux sourire qui m’assure la vie. Je ne trouve nulle part quel qu‘un pour te remplacer. Depuis ta mort la nuit semble très longue l’aube est très lente à naître. Comme moi l’automne t’a trop pleurée par le feu d’une rousseur que ramenait le chagrin. Chaque aube je regarde le soleil qui surgit de derrière de la montagne noire lointaine tout animé  par le pressentiment de la clarté mais moi je n’ai rien à attendre. Maintenant c’est l’hiver je suis là entre les bras du vent j’entends sa rumeur qui est la seule porte le son de consolation. Maman ! Est-ce que je pourrai atteindre le point de convergence trouver en moi l’accord qui harmonise les déchirements… ? Il me semble que nul ne peut rien pour moi. J’ai parfois même oublié de répondre à la personne qui m’appelle mon nom. Chaque crépuscule je pense à toi je lance mes regards vers l’horizon et rêve de ton retour. Ton départ pour moi c’est comme chaque fois que tu partais en missions : 3  jours 5 jours une semaine. Maman tu nous as beaucoup appris la loyauté tu disais souvent que l’argent la beauté la promotion… tous peuvent s’en aller sans prévenir seule la fidélité nous reste à jamais. Toi ma mère ma sœur mon amie je voudrais crier hurler à l’infini exiger du seigneur qu’il te ramène à moi je me sens bien dans ton bras. Tu sais maman ! La tristesse tel un verre de la plus parfaite transparence éveille jusqu’aux larmes la beauté en détail. Dans le sacre de sa simplicité la vie instinctive prend force de merveille je dépose sur ta tombe les jours comme des fleurs.

       Maman  quand j’ai eu mon premier enfant je t’ai comprise au deuxième je t’ai comprise encore mieux. J’ai eu des projets pour toi pourquoi t’en aller sans m’attendre.             

Hiệu Constant

                   (A la mort de ma mère je n’ai pas pu rentrer pour la voir une dernière fois)

                                                                                               10 /11/2002

 

More...

Một học trò tinh nghịch

By Lê Thị Hiệu

Giới thiệu tác phẩm Một học trò tinh nghịch

**

 

Arthus một cậu trò nhỏ mười tuổi thông minh mơ mộng say mê hội họa các cuộc triển lãm tranh sân khấu và nghệ thuật trình diễn. Nhưng ở trường mọi thứ hình như không được trôi chảy cho lắm và Arthus rất chật vật để theo các môn học như : tiếng Pháp toán khoa học kỹ thuật… và phải nói là Arthus đã không gặp may vì cậu đã lọt vào lớp học mà cô giáo Muriel luôn bị ám ảnh việc phải tuân thủ bất di bất dịch chương trình giảng dạy của bộ Giáo dục bà đúng là cỗ máy phân phát các hình phạt cho các mái đầu nào dám nhô cao lên tức những học trò láu cá lém lỉnh và cậu bé đáng thương Arthus sắp sửa bị liệt vào dạng học trò Vô hình mà bà giả đò không thèm để tâm đến chúng nữa.

Nhưng mặc dù kết quả học đường không được khả quan cho lắm thì Arthus vẫn luôn tìm ra cách để lại tiếp tục cố gắng và thậm chí cậu còn được các bạn cùng lớp rất yêu mến và cậu cũng rất quý họ đánh giá cao những điểm tốt của từng người. Cậu lập luận với tính triết lý già dặn : « Một số người ra đời đã được thiên phú cho một khả năng bẩm sinh để khiến cho cuộc sống tươi đẹp hơn. »

Thành tích học tập không cao nhưng qua từng trang sách chúng ta vẫn nhận ra một Arthus luôn luôn có cùng sự khát vọng được học hành và khám phá như một học sinh xuất sắc nhưng thông qua sự thay đổi sắc màu của vạn vật âm thanh trong thiên nhiên. Chiêm ngưỡng cái đẹp đó mới chính là sở thích của Arthus. Cậu luôn quan sát thế giới ham khám phá những điều xảy ra xung quanh mình nhạy cảm trước cảm xúc của người khác… Nhưng trường học lại dẫn cậu đến sự thất bại trong khi cậu có rất nhiều những khả năng những thiên hướng tiềm tàng và sự trưởng thành trước tuổi.

Một học trò tinh nghịch là một cuốn tiểu thuyết dí dỏm nhẹ nhàng. Xuyên suốt tác phẩm thậm chí trên từng trang chúng ta đều đọc được những nhận xét thông minh những câu đối đáp ngộ nghĩnh của Arthus và khiến chúng ta không khỏi mỉm cười. Trong tác phẩm này nữ tác giả Audren đưa ra hai chủ đề đối lập nhau : công việc học hành và cách đào tạo trẻ thơ. Chương trình ép buộc của bộ Giáo dục và những ý kiến trái chiều cho rằng giáo viên nên tùy theo khả năng tiếp thu của học sinh và điều chỉnh chương trình cho phù hợp với lớp dạy của mình.

Đây là một tác phẩm thú vị bởi nhân vật nhỏ tuổi Arthus thật đáng yêu cậu là hình ảnh tiêu biểu cho các học trò thông minh nhưng chưa tự điều chỉnh được khả năng của mình và điều này rất cần sự chú ý trực tiếp của thầy cô giáo. Cậu thật kỳ khôi cá tính và đầy tình người. Những câu đối đáp thật dí dỏm ngộ nghĩnh đôi khi đẩy tính hài ước lên cao những nhận xét thông minh nhưng không lúc nào ta có thể nhận thấy tính hiếu thắng hay hỗn hào nơi cậu.

« - Vấn đề nằm ở đâu nào ?

- Nó thì vẫn luôn nằm ở một chỗ thôi cô ạ tôi đáp lại. Em không thích đi lớp »

Và một màn mà cậu nói chuyện với nữ bác sĩ tâm lý của trường .

« - Cô muốn đo độ thông minh của em ư ? tôi đã hỏi thẳng cô Draculette.

- Không không đâu các cô chỉ muốn hiểu tại sao em lại không tiếp thu tốt trên lớp thôi. Các cô muốn giúp em.

- Cô chẳng cần phải tiến hành những cuộc kiểm tra vì việc ấy đâu. Em không thích đi lớp. Thế thôi. Chẳng cần phải vạch lá kiếm sâu làm gì cô ạ. Như cô chẳng hạn có rất nhiều thứ mà cô không thích… Ví dụ như… em không biết hết được… ví như nếu cô không thích nhạc Rap thì cô hẳn sẽ chẳng ép mình phải nghe nó…

- Nhưng trường học là bắt buộc Arthus ạ chứ không phải là nhạc Rap!

- Người ta buộc phải đến trường nhưng người ta không buộc phải là học sinh giỏi.

- Điều ấy giúp cho…

- Giúp cho cái gì ?

- Giúp cho việc chuẩn bị tương lai của em. Tương lai chuyện quan trọng lắm em biết rồi đó.

- Em ghét nói đến tương lai đến trước.

- Cô chỉ nói với em về tương lai đơn giản thôi.

- Nếu tương lai là đơn giản thì sao cô lại cứ phúc tạp hóa đời em lên vậy.[1] »

Bìa 4 :

Chính tả không thuộc sở trường của cậu. Cả các môn như Toán Lịch sử Địa lý Khoa học kỹ thuật… cũng thế. Arthus không thành công trên lớp học nhưng cậu lại thích gọi là « ghê đến trường» hơn. Cậu tuy vậy luôn có  cùng một khát vọng học như một học trò xuất sắc nhưng sự thay đổi màu sắc trên bầu trời thu hút cậu nhiều hơn là thì tương lai đến trước.

Chiêm ngưỡng cái đẹp đó mwois là sở trường cảu Arthus. Hệt như ông Pétillon ông chủ đồng thời cũng là thợ làm bánh ngọt mà sáng sáng cậu gặp ông để cùng nhau chiêm ngưỡng sắc màu của buổi bình minh. Như Sonia nữ chủ hiệu hàng hoa hay người bạn lớn tuổi của cậu là Peter một nhà sưu tầm tranh họa mà cậu rất thích tranh luận với ông về những gì khiến cho cuộc sống đẹp thêm. Arthus đa quyết định đưa cái đẹp vào trường học. Dù vui lòng hay miễn cưỡng. Điều ấy đến thật đúng lúc vở ca nhạc hài kịch  mà cậu yêu thích nhất sẽ được trình diễn tại Paris…

Đôi lời về tác giả : Audren sinh năm 1962 tại Paris bà đã đậu bằng cử nhân Văn chương và Hội họa. Bà bắt đầu viết từ khi mười lăm tuổi. Bà đã từng sống tại Hoa kỳ Anh và Italia bà rất thích đi du lịch và qua những chuyến đi đó đã nảy ra các nhân vật của bà. Nhiều nhân vật đặc biệt đầy cá tính và tình người.

Bà là tác giả của rất nhiều tác phẩm được giới trẻ vị thành niên yêu thích.

Một tác phẩm tuyệt vời dành cho lứa tuổi học đường từ 10 tuổi trở lên. Chúng tôi trân trọng giới thiệu ;

Paris 17 tháng 11 năm 2010

Hiệu Constant

 

Tác phẩm nguyên bản : Mauvaise élève

Tên tiếng Việt : Một cậu học trò tinh nghịch

Tác giả : Audren

Nhà xuất bản : Ecole des Loisir

Năm xuất bản : tháng 10 năm 2010

Số trang : 127

Khổ trang 20 X 17 CM



[1] Trong mấy lời hội thoại này tác giả đã để cho chú bé Arthus chơi chữ cùng bác sĩ tâm lý : Trong tiếng Pháp có thì Tương lai đến trước thì Tương lai đơn giản động từ được chia khác nhau nhưng trong khi nói thì dễ gây hiểu nhầm với hiện tại và tương lai.

More...

Nguyễn Lâm Thủy: Khi mình có trình độ và tấm lòng thì không sợ kỳ thị

By Lê Thị Hiệu

Nguyễn Lâm Thủy: Khi mình có trình độ và tấm lòng thì không sợ kỳ thị

Bài đăng trên báo Đại đoàn kết số ra (26/02/2011)

http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1434&chitiet=24482&Style=1

 

Nguyễn Lâm Thủy sinh ra và lớn lên tại Hà Tĩnh. Năm 1981 tốt nghiệp Đại học Y TP. Hồ Chí Minh. Năm 1988 bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành sinh Lý học. Năm 1996 bảo vệ luận án  tiến sĩ chuyên ngành Y học. Hiện anh là phó giáo sư đại học Y Budapest – Hungari. Ngoài công tác chuyên môn anh còn là một cây viết khá sôi nổi của cộng đồng người Việt tại Hungari. 
 
Anh Nguyễn Lam Thủy tại phòng làm việc (ảnh do nhân vật cung cấp)
 
 
 
- Cùng gia đình sang sinh sống và lập nghiệp ở Hungari được nhiều năm anh có thể cho biết những khó khăn trong hồi đầu lập nghiệp ở đất nước này?

Tôi vốn là cán bộ giảng dạy khoa Y trường Đại học Cần Thơ. Năm 1984 nhận được học bổng Nghiên cứu sinh của viện Hàn lâm khoa học Hungari để đến làm việc tại Viện Sinh Lý học thuộc trường Đại học Budapest. Được cử đi học là niềm mơ ước của nhiều người nó không những nâng cao trình độ về chuyên môn mà còn giải quyết được một phần kinh tế cho gia đình. Cuối năm 1988 tôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành sinh lý học tôi lại trở về giảng dạy và đảm nhiệm chức Phó khoa Y của trường Đại học Cần Thơ (nay khoa Y đã trở thành trường Đại học Y – Dược Cần Thơ).

Mùa hè năm 1990 tôi lại được viện Sinh Lý học của trường Đại học Budapest mời sang làm việc. Lần này tôi được phép đem theo cả gia đình. Vợ tôi tốt nghiệp khoa Tâm lý học của trường Lenigrad thuộc Liên Xô (cũ) không thể tìm được việc làm ở Hungari.

Năm 1991 tôi được mời đến làm việc ở Trung tâm Y học thuộc trường Đại học Pennsylvania (Mỹ) thế là cả gia đình tôi chuyển đến sống tại thành phố Philadelphia. Thời gian đó gia đình tôi thực sự khó khăn vì lương của tôi chỉ có 24.000 USD nhưng phải trả tiền nhà tiền bảo hiểm y tế... Làm việc chưa được sáu tháng tôi đành bỏ hợp đồng để trở về Hungari. Tại xứ sở này chúng tôi cũng gặp rất nhiều vấn đề. Năm 1994 tôi lại quay lại thành phố Philadelphia để làm việc ở trường Đại học Pennsylvania để chờ vận may. Nhưng vận may mà chúng tôi chờ đợi ấy đã chẳng bao giờ đến thế là tôi đành đem gia đình về lại Budapest. Những ai đã từng chuyển nhà thì hiểu được nỗi vất vả của chúng tôi vì trong vòng 3 năm mà gia đình tôi chuyển nhà đến bốn lần từ châu Âu sang Mỹ và ngược lại.

- Theo học ở các trường đại học ngoại quốc đã khó giờ lại ra trường và lập nghiệp tại “nước họ” có vị trí được trọng nể như hiện nay anh có thể chia sẻ những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tác nghiệp mối quan hệ với các đồng nghiệp người bản xứ?

Khi đến đất nước Hungari lần thứ hai ngay từ đầu tôi đã xác định chuyển sang làm bác sĩ điều trị. Làm cán bộ nghiên cứu trong thời buổi kinh tế khó khăn thì khó mà hoàn thành những công trình có giá trị khoa học cao hơn nữa kinh tế gia đình sẽ khó khăn. Năm 1996 tôi bảo vệ luận án tiến sĩ chuyên ngành Nội khoa sau đó chuyển hẳn về làm việc ở bệnh viện thực hành của trường Đại học Budapest. Ở Hungari cũng như ở các nước Đông Âu có rất ít người nước ngoài làm việc tại các công sở nên họ cũng rất kỳ thị người nước ngoài chỉ có những đồng nghiệp người quen thân khi họ đã biết rõ trình độ của mình thì họ rất trọng nể và mến phục. Trong cuộc sống tôi luôn tự nhủ: Phải làm việc cần mẫn kiên cường sáng tạo vận dụng hết trí thông minh phải tận tụy yêu thương bệnh nhân thì chẳng việc gì phải giải thích nhiều dần dần họ sẽ hiểu.
 
Anh Lâm Thủy và vợ
 

- Anh có thể kể một số trường hợp điển hình được không?

Ví dụ khi nghiên cứu thì phải tìm những công trình có tính khoa học và thực tiễn cao thiết thực với đời sống con người. Phải làm ra kết quả tốt rồi viết thành những bài báo đúc kết kinh nghiệm. Chính nhờ vậy nên tôi mới được hai trường Đại học trong đó có trường Pennsylvania – một trong 10 trường danh tiếng của Mỹ mời đến làm việc. Sang thư viện Mỹ được nhìn thấy những bài báo mình viết đặt trên kệ  cảm thấy sung sướng đến dàn dụa nước mắt.

Còn khi làm việc ở bệnh viện phải thường xuyên học hỏi kinh nghiệm bạn bè đồng nghiệp đọc sách báo... giúp chuẩn đoán chính xác và điều trị bệnh cho bệnh nhân được tốt hơn.

- Được biết gia đình anh dù sống ở Hungari đã nhiều năm nhưng vẫn giữ được rất nhiều truyền thống của người Việt. Anh có thể tâm sự đôi điều những gì anh chị đã làm để gìn giữ và dạy cho các con những truyền thống đó ?

Dù gia đình tôi sống xa Tổ quốc đã 20 năm nhưng ba con của tôi đều nói rất tốt tiếng Việt. Đứa con tôi lúc 5 tuổi về Việt Nam không ai biết trên thực tế đang sống ở nước ngoài. Nói ra thì khó ai tin hàng năm chỉ một đôi lần tôi ăn phomat và bánh mì cả nhà tôi ai cũng thích ăn các món ăn của Việt Nam nên anh chị tôi thường xuyên gửi đồ ăn sang và cứ mỗi lần nhận quà là lại ghi dấu ấn cho các con tôi. Tôi sinh ra và lớn lên ở một miền quê rất nghèo và rất đẹp (Nghệ Tĩnh) nên thường xuyên hồi tưởng cho các con về những hoàn cảnh dễ rung động trái tim chúng. Và tôi đã thành công: đứa con gái đầu lòng của vợ chồng tôi là bác sĩ nội trú không lấy chồng Tây mà lấy một người Việt và con rể tôi cũng là tiến sĩ.

- Con gái anh cháu Nguyễn Phạm Bảo Quỳnh đã được trao vương miện Á hậu người Việt tại châu Âu anh nghĩ gì về điều này anh chị đã làm gì để ủng hộ cháu trong cuộc thi  nổi tiếng tìm cái đẹp hoàn thiện của người phụ nữ?

Chị nhầm rồi con gái thứ hai của tôi chính là cháu Nguyễn Phạm Bảo Quỳnh là hoa hậu người Việt châu Âu năm 2008 chứ không phải Á hậu đâu. Những cuộc thi như vậy tôi rất ít quan tâm. Nhưng dẫu sao tôi cũng cảm ơn ban tổ chức đã đưa con gái tôi về với cội nguồn của nó cho cháu hiểu nhiều về con người đất nước Việt Nam về phong tục tập quán... còn đạt được vương miện đấy là trời cho. Còn tác động của chúng tôi chỉ là một phần rất nhỏ. Nhưng dẫu sao chúng tôi vẫn tự hào là Nguyễn Phạm Bảo Quỳnh rất thông minh sắc sảo... Hiện cháu đang học năm cuối của khoa Quan hệ quốc tế trường Đại học Corvinus tại Budapest và sau đó cháu sẽ đi làm Master tại Vương quốc Anh.
 
anh Lam Thủy trong lần về VN ảnh chụp tại đông Tiên ở Hạ Long
 
 

- Trong tương lai anh chị có ý định về Việt Nam hay đầu tư trong lĩnh vực nào đó tại Việt Nam không?

Chúng tôi sẽ về hẳn Việt Nam khi đến tuổi về hưu. Thời trẻ chẳng để ý gì đến các mùa. Sao bây giờ lại sợ mùa đông đến thế. Hiện tại tôi đang muốn tìm một việc làm mà mỗi năm 6 tháng ở Việt Nam 6 tháng ở Hungary. Nhưng điều ấy khó có thể thực hiện được. Bây giờ chỉ cần về Việt Nam một tháng thôi thì hàng ngày có tới 50 bệnh nhân gọi điện kiếm tìm rồi còn công việc giảng dạy hướng dẫn sinh viên nghiên cứu sinh... Khi quay lại công việc cứ rối bù cả đầu và thế là lại lăn vào mà làm.

- Cám ơn anh. Chúc anh thành công và đạt được mọi nguyện vọng của mình.
Hiệu constant (Paris)

More...